cha mẹ mất không để lại di chúc
Ba mẹ tôi cưới tháng 4/1975 song mất giấy đăng ký kết hôn do chiến tranh loạn lạc, nay lập di chúc có phải làm lại giấy kết hôn? Ba mẹ tôi nay ngoài 70 tuổi, có 2 con trai đã lập gia đình riêng. Bố mẹ có một mảnh đất, dự định sẽ di chúc lại cho các con,nhưng lại lo
Tài sản của người chết được gọi là di sản. Qua bài viết này, Công ty TNHH Luật Trần và Liên Danh sẽ hướng dẫn các quy định của bộ luật Dân sự 2015 về các trường hợp chia thừa kế không có di chúc như sau: Khái niệm thừa kế theo pháp luật
1. Thời điểm di chúc có hiệu lực: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Như vậy, chỉ khi người để lại di chúc chết thì di chúc mới có hiệu lực. Đồng thời, thời điểm người có tài sản chết thì Điều
Trả lời: Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) đã quy định rất rõ vấn đề này. Nếu một người trước lúc chết có để lại di chúc hợp pháp thì việc thừa kế sẽ được tiến hành theo sự định đoạt của người đó trong việc phân chia tài sản thuộc quyền sở hữu của họ
Nếu cha mẹ bà có để lại di chúc hợp pháp thì tài sản sẽ được phân chia theo di chúc đó. Nếu cha mẹ bà không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì việc phân chia thừa kế sẽ được thực hiện theo pháp luật, tức là theo hàng thừa kế. Trong trường hợp này
Người chồng mất và không để lại di chúc thì số tài sản đó sẽ được chia theo quy định của pháp luật và căn cứ vào Điều 651 Bộ Luật Dân sự năm 2015 về người thừa kế theo pháp luật: “1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây. a
trusovtely1974. - Cha mẹ tôi để lại một căn nhà nhưng không có di chúc. Hiện tại anh em trong gia đình đang xảy ra tranh chấp, cãi nhau rất nhiều. Ai cũng bảo nhà lẽ ra thuộc về mình vì đã có công này kia. Tôi thì muốn bán rồi chia đều cho tất cả mọi người nhưng không ai đồng ý. Xin hỏi luật sư việc này cần giải quyết thế nào? Chồng trúng số 2 tỷ, ly hôn phải chia phần cho vợ Cách nộp phạt giao thông và nhận giấy tờ qua bưu điện Ảnh minh họa Theo quy định tại Luật Đất đai 2013, khoản 1 Điều 188 Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây a Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này; b Đất không có tranh chấp; c Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; d Trong thời hạn sử dụng đất. Như vậy, để căn nhà có thể đưa vào giao dịch mua bán thì bạn phải là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông tin bạn nêu thì căn nhà là di sản thừa kế do cha mẹ để lại không có di chúc. Nên để chuyển nhượng được căn nhà cần có sự thống nhất của tất cả các hàng thừa kế và chia di sản theo pháp luật. Căn cứ Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Người thừa kế theo pháp luật 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây a Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; 2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Thủ tục phân chia di sản thừa kế, Theo Điều 656 Bộ luật Dân sự 2015 Họp mặt những người thừa kế 1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây a Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc; b Cách thức phân chia di sản. 2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản. Căn cứ quy định trên, khi có thông báo về việc mở thừa kế anh em bạn có thể thỏa thuận về cách thức phân chia di sản. Trường hợp các đồng thừa kế không đồng ý bán nhà thì bạn nộp đơn hòa giải chia thừa kế ngôi nhà tại Ủy ban nhân dân cấp xã phường, sau đó nếu hòa giải không thành thì nộp đơn khởi kiện phân chia di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi có bất động sản. Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Giám đốc Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, HN Bạn đọc muốn gửi các câu hỏi thắc mắc về các vấn đề pháp luật, xin gửi về địa chỉ banbandoc Xin ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để chúng tôi tiện liên hệ Ban Bạn đọc Con không muốn cha thừa kế tài sản của mình Tôi muốn lập di chúc thừa kế bí mật, trong trường hợp tôi mất đột ngột thì người thân của tôi dựa vào di chúc mà thực hiện để không xảy ra tranh chấp. Chồng mất, vợ muốn được thừa kế 5 tỷ Chồng tôi mất đi để lại khối tài sản khoảng 10 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi tôi định chia cho các con của mình thì gặp phải sự phản kháng từ phía nhà chồng và chính các con. Đã cho tiền xây nhà, nay chú lại đòi chia thừa kế Hiện tại chú thím quay lại kiện đòi chia đất. Tại UBND xã đã đứng ra hòa giải nhưng bố mẹ em không chấp nhận. Thanh tra huyện và tòa án huyện về tuyên quyền sử dụng đất bố mẹ em là đúng.
TTO - * Cha mẹ tôi mất để lại căn nhà không có di chúc. Nhà tôi có chín anh chị em. Anh chị em tôi tranh giành tài sản có ba người khước từ thừa kế. Xin hỏi tôi có thể làm đơn chia thừa kế được không? Nguyễn Thanh Cảnh - Do bạn không nói rõ thời điểm cha mẹ bạn mất nên không thể xác định có còn thời hiệu khởi kiện để yêu cầu phân chia thừa kế hay không. Theo quy định của pháp luật dân sự, thời hiệu này là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy nếu cha mẹ bạn mất chưa quá mười năm thì bạn được quyền làm đơn khởi kiện. Trường hợp thời hiệu đã hết thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản mục I nghị quyết số 02/2004/QĐ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết. Bạn có thể gửi đơn đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi căn nhà tọa lạc nếu không có yếu tố nước ngoài hoặc tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu có yếu tố nước ngoài để yêu cầu tòa án giải quyết.
Phân chia đất đai khi cha mẹ mất không để lại di chúc là quyền lợi của mỗi người anh em, con cái trong gia đình. Đất đai là tài sản rất có giá trị việc chia thừa kế chưa đúng theo pháp luật thường dễ phát sinh tranh chấp về sau, khi ông bà, bố mẹ mất, người đúng tên sổ đỏ mất không để lại di chúc. Bài viết dưới đây sẽ giúp Quý bạn đọc nắm rõ hơn về luật chia đất đai cho con khi bố mẹ mất không có để lại di chúc. >> Tham khảo thêm bài viết Tranh chấp tài sản thừa kế có di chúc >> Tham khảo thêm bài viết Tranh chấp tài sản thừa kế không di chúc Bố mẹ mất không để lại di chúc đất đai tài sản phân chia như thế nào? Quy định về chia di sản thừa kế không có di chúc Cha mẹ mất không để lại thừa kế như thế nào Theo khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự BLDS 2015, trong trường hợp người để thừa kế không để lại di chúc để chia thừa kế thì di sản để thừa kế sẽ được chia theo quy định của pháp luật liên quan đến thừa kế. Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Người chia thừa kế theo luật định Căn cứ theo quy định Điều 651 BLDS 2015 người thừa kế theo pháp luật được quy định như sau Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Hàng thừa kế thứ hai gồm ông bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; Hàng thừa kế thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. Những người thừa kế ở hàng sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. >> Tham khảo thêm bài viết Quyền thừa kế đất đai không có di chúc Di sản thừa kế bao gồm những gì? Di sản để lại thừa kế gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác theo quy định tại Điều 612 BLDS 2015. Do đó, có thể hiểu di sản bao gồm tất cả những vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản động sản và bất động sản mà người để lại thừa kế sở hữu Cách chia di sản đất đai do cha mẹ chết không để lại di chúc Cách chia di sản thừa kế Theo nguyên tắc, khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thừa kế trong cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản như nhau. Việc phân chia quyền sử dụng đất cũng như vậy dựa trên số người được nhận di sản thừa kế để phân chia quyền sử dụng đất thành các phần bằng nhau. Thủ tục thừa kế không có di chúc được thực hiện tại văn phòng công chứng nơi có đất đai để lại theo quy định tại Điều 57 Luật công chứng 2014. Để tiến hành thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế, giấy tờ cần có trong hồ sơ gồm Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giữa những người đồng thừa kế; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ đỏ, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất; Giấy chứng tử của người để lại di sản; CMND hoặc hộ chiếu, hộ khẩu của người những người được thừa kế; Giấy tờ chứng minh mối quan hệ của những người được thừa kế theo pháp luật với người chết giấy khai sinh, đăng ký kết hôn…. Bên quản lý di sản không thực hiện việc phân chia di sản thì cần làm gì Theo khoản 2 điều 660 BLDS 2015, những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia. Trường hợp bên quản lý di sản hoặc bất kỳ người thừa kế nào không ký vào biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì những đồng thừa kế còn lại có thể nộp đơn đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu chia di sản thừa kế. Mặt khác, theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 617 BLDS 2015 thì bên quản lý di sản có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại và không được trả thù lao. Luật sư tư vấn giải quyết thừa kế di sản đất đai Tư vấn pháp lý về thừa kế di sản Tư vấn về trình tự, thủ tục thừa kế di sản khi cha mẹ mất không để lại di chúc Soạn thảo đơn từ và giấy tờ liên quan đến phân chia di sản là đất đai khi cha mẹ mất không để lại di chúc Hoàn thành thủ tục phân chia di sản là đất đai khi cha mẹ mất không để lại di chúc Tư vấn phương án Giải quyết tranh chấp di sản là quyền sử dụng đất; Soạn thảo đơn khởi kiện và văn bản tố tụng liên quan; Đại diện theo uỷ quyền hoặc tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Quý khách hàng. >> Tham khảo thêm Mẫu giấy cam kết không tranh chấp tài sản thừa kế Luật sư tư vấn giải quyết thừa kế di sản là đất đai Khi cha mẹ mất không để lại di chúc thì việc phân chia di sản đặc biệt là đất đai sẽ gặp nhiều khó khăn và có thể xảy ra tranh chấp. Bài viết trên đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến việc phân chia di sản là đất đai khi cha mẹ chết không để lại di chúc để Quý bạn đọc nắm được căn bản các quy định của pháp luật. Nếu Quý khách hàng còn có những thắc mắc liên quan đến việc phân chia di sản hay các vấn đề khác có liên quan cần luật sư tư vấn luật thừa kế đất đai xin vui lòng liên hệ trực tiếp qua HOTLINE 1900633716 để được giải đáp kịp thời và chính xác nhất. Xin cảm ơn! Bài viết được thực hiện bởi Thạc sĩ - Luật sư Phan Mạnh Thăng Lĩnh vực tư vấn Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác Trình độ đào tạo Thạc sỹ kinh tế Luật - Trường đại học Luật Số năm kinh nghiệm thực tế 12 năm Tổng số bài viết 839 bài viết
TTO - * Cha mẹ tôi mất để lại căn nhà không có di chúc. Nhà tôi có chín anh chị em. Anh chị em tôi tranh giành tài sản có ba người khước từ thừa kế. Xin hỏi tôi có thể làm đơn chia thừa kế được không? Nguyễn Thanh Cảnh - Do bạn không nói rõ thời điểm cha mẹ bạn mất nên không thể xác định có còn thời hiệu khởi kiện để yêu cầu phân chia thừa kế hay không. Theo quy định của pháp luật dân sự, thời hiệu này là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy nếu cha mẹ bạn mất chưa quá mười năm thì bạn được quyền làm đơn khởi kiện. Trường hợp thời hiệu đã hết thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản mục I nghị quyết số 02/2004/QĐ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết. Bạn có thể gửi đơn đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi căn nhà tọa lạc nếu không có yếu tố nước ngoài hoặc tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu có yếu tố nước ngoài để yêu cầu tòa án giải quyết. * Tháng 5-2005 tôi ký hợp đồng lao động HĐLĐ một năm với công ty X và tham gia đóng bảo hiểm đầy đủ suốt một năm. Khi tái ký hợp đồng vào tháng 5-2006, do có thai một tháng, sức khỏe yếu nên tôi đã ngưng ký HĐLĐ. Từ đó cho đến khi sinh con, tôi chỉ làm việc tự do ở nhà. Tôi không biết nếu đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội tổng cộng 19 tháng, trong đó có 12 tháng cuối là liên tục thì khi sinh bé, dù đã nghỉ việc trước đó, tôi có được hưởng chế độ bảo hiểm nào không? Hoàng Ngân - Do trong thư bạn không đề cập rõ ràng trong khoảng thời gian nào bạn có đóng bảo hiểm xã hội và thời điểm nào bạn sinh con nên chỉ có thể cho bạn biết về điều kiện hưởng chế độ thai sản. Đối với chế độ khi sinh con thì điều kiện để được hưởng là bạn phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Đối với chế độ khi khám thai thì điều kiện để được hưởng là bạn phải đang đóng bảo hiểm xã hội khi thực hiện việc khám thai điều 28, 29 và điều 31 Luật bảo hiểm xã hội. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
cha mẹ mất không để lại di chúc